CURSILLO

 Movement

CHUVINA

Hung Andy Van Chu

Vietnamese INorth America

Huynh Đệ Chi Binh

Trần Xuân Thời



Nếu gọi văn hoá là tất cả những gì thể hiện sự hiện hữu của con người trên thế giới nầy thì tình huynh đệ chi binh cũng là một đặc điểm của nền văn hoá Việt Nam.

Diễn trình kiến tạo tình huynh đệ bằng hữu là diễn trình Tri và Mộ, vì vô tri thường bất mộ.  Không quen biết thì làm sao có thể trở nên thân thích được. Thế nên hễ có dịp gặp anh em để bàn bạc sự đời, chúng ta thấy tinh thần họat hiện.

“Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ” Được gặp bạn từ phương xa đến, quả là một niềm vui vì   

“Tình bằng hữu giá đáng muôn chung. Người ở thế dẫu trăm năm là mấy“

Đại hội của các hội aí hữu quân, dân, cán, chính thường tạo cho chúng ta môi trường gặp gở, kết chặt thân tình, kết tinh chí hướng. Với nghị lực tiềm tàng, chúng ta đương đầu với cuộc sống mới đầy gian lao và thử thách. Hoàn cảnh mới đòi hỏi chúng ta phải phấn đấu trường kỳ cho gia đình, bản thân và nòi giống.

Thuở ban đầu nơi xứ lạ quê người dù không lưu luyến, nhưng ngàn năm chưa dễ đã ai quên. Có khi “Vui là vui gượng kia mà.  Ai tri âm đó mặn mà với ai”. Có lẽ phần vì chúng ta xem nhau như người khách lạ, phần khác vì  mãi mê vật lộn với những nhu cầu cấp thiết của cuộc sống hằng ngày nên thái độ ngoãnh mặt, cúi đầu, mặc ai hỏi, mặc ai không hỏi đến là thái độ thường tình của kẻ bất đắc chí.

Nếu thời gian là liều thuốc hàn gắn vết thương lòng, thì sau  gần 40 năm trời viễn xứ,  thời gian đã khơi động tình huynh đệ chi binh và tình  đồng hương muôn thuở tiềm ẩn trong tâm khảm của mỗi người dù “Anh với tôi đôi người xa lạ. Tự phương trời chẵng hề quen nhau. Nhưng lúc nguy biến, tình siết chặt tình. Đêm tối chung chăn, thành đôi tri kỷ” và mỗi khi đã trở thành tri kỷ thì:

“Gặp một bữa, anh đã mừng thầm một bữa
Gặp hai hôm, thành nhị hĩ của tâm hồn”

Diễn trình kết nghĩa là diễn trình tri và mộ.  Khi chưa quen biết thì gặp gỡ, tìm hiểu nhau để thông cảm. Khi quen biết nhau rồi thì không còn tìm hiểu nhau nữa mà hiểu nhau qua môi giới cảm thông.

Tình huynh đệ chi binh, tình đồng hương, tri âm hay tri kỷ là cung bậc tiết tấu cảm thông toàn vẹn nhất của nhân tình.

 Ngày xa xưa ấy, Ba Nha và Chung Tử Kỳ là đôi bạn tri âm.  Bá Nha có ngón đàn tuyệt diệu, khi cao thì vời vợi tựa núi Thái sơn, khi trầm thì âm hưởng như tiếng suối mới sa giữa vời. Chung Tử Kỳ chết, không còn ai hiểu nỗi tiếng đàn, Bá Nha ném đàn không gảy nữa!

   “Đàn Bá Nha mấy kẻ biết thưởng âm
   Mới nghe qua khóc trộm lại đau thầm
   Chung Kỳ chết, ném đàn không gảy nữa”.

Tình huynh đệ chi binh cũng như tình bằng hữu là kho tàng vô giá, là nguồn an uỉ vô biên, ai khinh miệt tình huynh đệ bằng hữu tâm hồn sẽ chết trong giá lạnh.  Khi sống hạnh phúc, trong ấm ngoài êm, ai cũng có thể là bè bạn. Khi gặp lúc gian nguy khốn khó đem cay đắng đến cho đời, thì còn ai lao mình vào lữa đạn để cứu mình, còn ai thương tiếc mình, còn ai để chia vui sẽ buồn, tìm phương thoát hiểm, nếu không phải là tri kỷ.   

Một Lưu Bình và Dương Lễ, ai nhờ ai nên danh phận.  Một Lê Lai liều mình cứu chúa, chẵng những để đền ơn tri ngộ, giữ nghĩa quân thần mà còn là biểu tượng hy sinh cao cả của tình bằng hữu. Thế mới biết lúc gặp hoạn nạn mới biết ai là bạn thật.

Dương Khuê chết đi, cụ Nguyễn Khuyến khóc suốt cuộc đòi còn lại

        “Bác Dương thôi đã thôi rồi
        Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta
        Chợt nhớ thuở đăng khoa ngày trước
        Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau“

Bây giờ thư phòng trở nên băng giá, can trường bổng chịu vết thương đau vì không còn ai để đối ẩm.

       “Đã tắt lò hương lạnh phiếm đàn
       Thư phòng sắp sẵn để cô đơn
       Trời cao mây nhạt ngàn sao rụng
       Một giải vương theo mấy dặm sầu
       Sớm biệt ly nhau luôn nhớ nhau

Nửa đêm chợt tỉnh bổng dâng sầu
Trăng mùa thu cũ ai tâm sự
Đệ đã đi rồi, huynh biết đâu”!

Hay

"Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa”

Cũng vậy Vua Tự Đức khóc Bằng Phi, một thiên giai nhân tri kỷ.

“Ôi thị Bằng Phi đã mất rồi
Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ôi
Mưa hè, nắng chái, oanh ăn nói
Sớm ngõ, trưa sân, liễu đứng ngồi
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi
Mối tình muốn dứt càng thêm bận
Lẽo đẽo theo hoài mãi chẵng thôi“
Xem thế thì tri kỷ quý hoá biết dường nào"

Thời gian vô bờ, đời người  không bến, trôi dài với nhau.  Thời gian càng chồng chất, nỗi lòng càng thêm tê tái, tràn gập nỗi cô đơn và niềm đau xa tri kỷ khi phải lià bỏ quê hương dấn thân trên buớc đường vô định. 

Không cần phải gọi nằm người thiên cổ dậy để chứng giám cơn đau vời vợi ấy, mà chính chúng ta, trong thâm tâm của mỗi người, cảm nghiệm được niềm bất hạnh của cuộc đời với cuộc chia ly bẽ bàng và oan nghiệt.  Bạn khuyên ta nên uống cạn chén bô đào vì khi qua bên kia phương trời Tây, không còn cố nhân nữa.

“Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu
Tây xuất Dương quan, vô cố nhân”.

Trong hoàn cảnh vở đàn tan nghé đó, mỗi người mò mẫm đi tìm sinh lộ như lữ hành trong sa mạc đi tìm suối nước.

“Than ôi, môt kiếp phong trần,mấy phen chìm nổi
Trời tình mờ mịt, bể giận mênh mông
Sợi tơ mành theo gió cuốn đi
Cánh hoa rụng, chọn gì đất sạch”.

Có lẽ con Tạo khéo trêu ngươi, bắt người khôn phải gặp gian truân và cũng có lẽ con Tạo muốn thử thách chúng ta, những đồng hương và chiến binh đã một thời oanh liệt: “Trong lăng miếu ra tài lương đống hay ngoài biên thùy rạch mũi can tương”.

“Có gió cả mới hay cây cứng
Không đường dài, nào biết ngựa hay”

Trong cái thử thách đó, mình thử nghĩ:

“Ngẫm thay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”

Đã là chiến binh thì mấy ai rời khỏi được kiếp gian nan!

Hơn ba triệu dân, quân, cán, chính VNCH tuấn kiệt đã hy sinh tánh mạng trong trận chiến chống xâm lăng CS. Trong đó biết bao chiến sĩ  đã sống hiên ngang và hy sinh cho tổ quốc một cách oanh liệt.  Chết vì tổ quốc, chết vinh quang “ Mourir pour la patrie c’est une gloire”.  Những người sống sót như chúng ta, để  đổi lấy tự do, chúng ta cũng phải chia phần mất mát.

“Trời đâu thiên vị người nào
Chữ tài, chữ mệnh dồi dào cả hai”

Nhưng không phải vì thế mà chúng ta quy ẩn hay sinh ra chán chường không phải lẽ. Dù  “hận nước chưa trả  xong đầu đã bạc, nhưng gươm mài vầng nguyệt đã bao ngày”, bởi hy vọng là mạch sống của cuộc đời

“Trời đâu riêng khó cho ta mãi
Vinh nhục dù ai cũng một lần”  

Đức Khổng Tử khuyên thế nhân khi vui thì hãy vui nhưng đừng kiêu căng, tự phụ và khi tai họa đến thì nên lo nghĩ mà chớ buồn phiền để mưu sinh thoát hiểm .  Thế thì suy nghĩ là giềng mối cho mọi sự vì tư tưởng lên khuôn cho hành động.

Chúng ta đang tìm nhau để kết nghĩa huynh đệ thân tình, kết tinh chí hướng hầu giúp đở nhau trên bước đường gian truân lưu lạc.  Nguyên tắc người đồng môn, đồng hương, đồng nghề, đồng nghiệp, đồng màu cờ sắc aó phải giúp người đồng hội, đồng thuyền để cùng nhau thăng tiến, nếu được xem như chỉ tiêu sinh hoạt trong đời sống hằng ngày,  thì sá gì gian lao thử thách.

Chúng ta sẽ san bằng mọi trở ngại để cùng nhau xây đắp nền tảng cho tập thể đồng hương trong tình đoàn kết và phồn thịnh.  Mỗi người ý thức trách nhiệm, tự do gánh vác công việc chung, phát huy khả năng cá nhân, đóng góp vào sự kiến tạo một tập thể hùng mạnh cho hiện tại và tương lai. 

Về tình cảm, dù có lúc cô đơn, nhưng cụ Phan Sào Nam cũng đã khuyên chúng ta

“Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ
Thiên hạ thùy nhân bất thức quân”

Đừng buồn vì trên đường đời chưa gặp tri kỷ, trong thiên hạ hẵn có người biết đến bạn.   Biết đâu nhiều chiến hữu, đông hương, đang trông chờ gặp được huynh, đệ trong các đại hội thường niên, Tết Nguy ên Đán hay 30/4 với khúc hát ân tình nặng lòng với quê hương hay tiếng quân hành còn như văng vẵng bên tai.

Với lòng tin tưởng không nao núng thì đường đời không còn khó vì ngăn sông cách núi.

“Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lập. Cùng Hán Đường, Tống Nguyên, hùng cứ một phương. Dẫu cường nhựợc có lúc khác nhau, song hào kiệt thời nào cũng có.

Vậy nên,

Lưu Cung sợ uy mất vía, Triệu Oai nghe tiếng giựt mình. Cửa Hàm Tử giết ngay Toa Đô, sông Bạch Đằng bắt sống Ô Mã. Xét xem sử sách đã có minh trưng”.

Những trang sử oai hùng đó như sống mãi trong tâm khảm của mỗi người, không những trong khung cảnh quê hương gấm vóc:

Đây      

“Bắc Việt với núi nùng, sông Nhị, cả một vùng cây cỏ thanh u,
Trung Việt với miếu môn lăng tẩm, chốn đế đô nghiệm mật mơ màng,
Và Nam Việt với đồng ruộng phì nhiêu, nguồn lợi dồi dào của dân tộc Việt”.


Mà ngày nay còn phảng phất khắp năm châu, bốn bể, đâu đâu cũng in hình dấu viết của con cháu kiêu hùng của dòng giống Lạc Hồng.

Tập thể dân, quân, cán, chính chúng ta đang nỗ lực san bằng mọi trở ngại, tham gia sinh hoạt trong mọi ngành hoạt động của tập thể người Việt quốc gia hải ngoại  và viết thêm trang sử oai hùng làm rạng danh nòi giống Tiên Rồng để lưu truyền cho hậu thế.

Mọi sự mới chỉ là tái bắt đầu và như Triết gia Platon đã nói:”Hãy bắt đầu vì đó là ngưỡng cửa quan trọng nhất của sự thành công“.  

Thương nhau như tri kỷ trong tình huynh đệ chi binh và tình đồng hương muôn thuở, kết chặt thân tình, kết tinh chí hướng, hoàn thành sứ mênh cố hữu mà tổ quốc đã giao phó.

Phục vụ tập thể đồng hương tại hải ngoại trong hoàn cảnh tha hương thì cũng như phục vụ chính quê hương chúng ta trong tinh thần “Tổ Quốc-Danh Dự- Trách Nhiệm” vậy.

Trần Xuân Thời



Học Viện

Quốc Gia Hành Chánh

“Trường Thi Trận Bút”
Trần Xuân Thời


Trường Quốc Gia Hành Chánh là một trường chuyên nghiệp, không phải là một phân khoa tự do của Viện Đại Học Sàigon như Văn khoa hay Luật Khoa mở rộng cho sinh viên ghi danh vào học tự do không cần qua kỳ thi nhập học. Trường được thành lập do Nghị Định 246-CAB/SG ngày 7 tháng 4 năm 1952, sưa đổi bởi Nghị Định 560/PTT/TTK ngày 22 tháng 8 năm 1954 và đổi danh xưng thành Học Viện Quốc Gia Hánh Chánh bởi Nghị Định 483-TTP/TTK ngày 9 tháng 8 năm 1955.

Học Viện có nhiệm vụ nghiên cứu và đào luyện các viên chức hành chánh cao cấp cho chính phủ Vìệt-Nam Cộng Hòa. Hơn hai ngàn sinh viên đã tốt nghiệp tại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh từ khoá Đốc Sự Đà Lạt nhập học năm 1952 đến năm 1975.

Chương trình huấn luyện gồm 3 ban:  

  • Tham sự, 1 năm  (5 khóa tốt nghiệp từ năm 1965-1970)
  • Đốc sự,  3 năm ½  (20 khóa tốt nghiệp từ 1952-1975)
  • Cao học, 2 năm (8 khóa tốt nghiệp từ 1965-1975).


Muốn nhập học,  thí sinh phải có văn bằng Tú tài toàn phần cho ban Tham sự,  Đốc sự và văn bằng Cử nhân hay tương đương cho ban Cao học.

Tất cả thí sinh dự tuyển phải trải qua một kỳ khảo hạch  gồm một bài bình luận về các vấn đề văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị…, để lượng giá kiến thức tổng quát, khả năng suy luận và khả năng diễn đạt tư tưởng của thí sinh.

Đa số thí sinh bị loại vì bài bình luận.  Ban giám khảo chỉ chọn một số thí sinh có điểm cao về bài bình luận.  Sau đó chấm tiếp các bài khác của các thí sinh đã được chọn,  với  hệ số thấp hơn,  như bài thi về sử ký hoặc địa lý nhân văn hay địa lý  kinh tế và một bài sinh ngữ,  để tuyển chọn 100 thí sinh hằng năm trong hằng ngàn thí sinh dự tuyển.  Tỷ số trúng tuyển khoảng 5% mỗi năm cho các ban.

Bài bình luận với hệ số 4 là một bài trắc nghiệm về khả năng am hiểu vấn đề, khả năng phân tích và khả năng bình phẩm, tổng hợp một đề cương

Thí sinh đã thi thố tài năng qua các bài bình luận về triết lý trị quốc an dân, các thể chế chính trị hoặc các định chế kinh tế, xã hội quốc tế. Ví dụ như:

Đề thi vào khoá 5 Ban Đốc sự (1957). Anh chị hãy bình luận câu: “Hà chính mãnh ư hổ dã” (Chính sách hà khắc tàn bạo hơn cọp dữ). 
Đề thi bài bình luận thi vào khoá 10 (1962)” Cứu cánh biện minh cho phương tiện”;
Đề thi vào khóa 11 Ban Đốc sự (1963) “Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành; kỳ thân bất chính, tuy lệnh nhi bất tùng” (Bản thân là chính trực, không ra lệnh người cũng nghe; bất chính thì có ra lệnh người cũng không nghe). 

  • Đề thi vào khoá 12 Ban Đốc sự (1964): “Dân chủ và Độc tài”.  
  • Đề thi vào khóa 22 Ban Đốc sự (1974): “Ngày xưa người ta coi công chức là chi dân phụ mẫu”.  Anh chị nghĩ thế naò.?
  • Đề thi vào khoá 1 Ban Cao học (1965):”Vấn đề các nước bị chia đôi“.  
  • Đề thi vào khoá 3 Ban Cao học (1967): “Chiến tranh và các định chế quốc tế”
  • Đề thi vào khoá 1 Ban Tham sự (1965) “Chánh sách tái phân lợi tức” (đề tài kinh tế)


Đa số các đề thi của các bài bình luận không mấy liên quan đến chương trình trung học hoặc đại học,  nhằm trắc  nghiệm kiến thức tổng quát về văn hoá,  xã hội,  kinh tế, chính trị ...  Kiến thức tổng quát được thủ đắc qua kinh nghiệm sinh hoạt hằng ngày  hay  qua các phương tiện truyền thông như báo chí, các tập san nghiên cứu, truyền thanh, truyền hình mà chỉ những học sinh hay sinh viên có năng khiếu  lưu tâm đế thời cuộc,  đến hiện hình đất nước hay tình hình thế giới  mới  nghiên cứu.

Học viện có sứ mệnh đào luyện (formation) những thanh niên nam (90%) và nữ (10%) có kiến văn, khả dĩ  am hiểu tình hình xã hội, văn hoá, kinh tế, chính trị để đảm nhiệm các vai trò quản trị nền hành chánh công quyền của Việt Nam Cộng Hòa.  Học viện tuyển chọn các thí sinh có năng khiếu sưu tầm, quan tâm đến đời sống cộng đồng, thiên về sinh hoạt của nhân quần xã hội, hoặc có khuynh huớng bẫm sinh phục vụ quần chúng.

Truyền thụ kiến thức thì dễ, nhưng đào luyện ý chí (will) và tâm tưởng (mentality) cho tha nhân để phục vụ công ích thì rất khó, nếu không chọn đúng đối tượng.  Phương pháp tuyển chọn hữu hiệu là mở khoa thi để tuyển chọn nhân tài, khám phá những sĩ tử có sẵn căn bản, ước nguyện hay khuynh hướng bẩm sinh về ngành quản trị công quyền.  Năng khiếu của thí sinh thường được nhận diện qua khả năng thu nhận kiến thức, tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo được biểu lộ trong bài bình luận vì “Văn tức là người” (Le style, c’est l’homme).

Bài bình luận là phương tiện để phát hiện khả năng của thí sinh qua tiến trình “Ý tại, ngôn ngoại”. Thí sinh có cơ hội bộc phát ý tưởng sẵn có trong nội tâm để thi thố tài năng qua trường thi trận bút.  Nhờ đó, Học viện có thể khám phá và đào luyện được những sĩ tử có kiến thức thích ứng cho ngành quản trị qua hệ luận:   “Tư tuởng được thể hiện qua ngôn, từ.  Ngôn, từ sẽ phát sinh ra hành động.  Hành động nhiều lần sẽ thành thói quen.  Thói quen lâu ngày sẽ trở thành bản tính, nhân cách, tác phong hành sự.”

“Công tác giáo dục cũng như công việc của người thợ may”. Trước khi may áo, người thợ may phải đo kích thước của khách hàng, không phải để chê bai “Cao chê ngỏng, thấp chê lùn. Béo chê, béo trục béo tròn.  Gầy chê xương sống, xương sườn phơi ra“, mà để may cho đúng kích thước.  Cũng vậy, trước khi đào luyên nhân tài, Học Viện cần tìm hiểu xem thử những sĩ tử nào có khả năng thích ứng để trở thành chiến sĩ tuyến đầu làm công bộc của dân. (Administrateur civil/ Field administrator) mà người xưa thường gọi là “Chi Dân Phụ Mẫu”.

Bước chân vào trường thi trận bút mà không có tư tưởng thì chẵng khác nào ra trận mà không trang bị vũ khí thì làm sao chiến thắng được đối phương.  Đảm nhiệm công tác trị quốc an dân mà không có tư tưởng thì làm sao chu toàn sứ mệnh “Thứ, Phú, Giáo”:  Làm cho dân ngày càng đông đảo, càng giàu mạnh và nâng cao trình độ dân trí ngày càng cao.  

Một khi đã có tư tưởng thì tư tuởng lên khuôn cho hành động. Hay nói cách khác, có tri, ắt có hành. Tri hành thường phải hợp nhất.  Một khi tri hành không hợp nhất thì đúng là “Kỳ thân bất chính, tuy lệnh, nhi bất tùng”.  Không đủ tư tưởng để bình luận một đề thi đáp ứng chủ đích của Học viện thì thí sinh không đủ tiêu chuẩn để được tuyển chọn theo học ngành quản trị công quyền.

Những nguời có khả năng chuyên khoa về Anh văn, Pháp văn, toán học… hoặc những học sinh hay sinh viên thích thi ca, ”Thức suốt đêm làm thơ rồi đợi chờ” hoặc luyện  chưởng của Kim Dung để viết tiểu thuyết thì khó lòng mà vượt qua cửa  ải của bài bình luận. 

Một số thí sinh không trúng tuyển cho biết cảm tưởng là đề thi không phù hợp với sở trường của họ nên nạp giấy trắng.  Đúng, mỗi người có một sở trường vì nhân sinh quý thích chí.  Các thí sinh nầy thi thử, nhưng không có duyên với hành chánh nên đã dấn thân và thành công trong các ngành chuyên khoa khác.  

Chương trình huấn luyện gồm các môn chính trị, kinh tế, tài chánh, hành chánh, kế toán, tư pháp, luật lao động, soạn thảo công văn, soạn thảo ngân sách, thuế khóa, phương pháp sưu tầm, xã hội học, thống kê, ngân hành, bang giao quốc tế, các vấn đề hành chánh điển hình, luật hành chánh…

Riêng ban Đốc sự, cuối năm học, sinh viên phải thi viết 8 môn và thi vấn đáp 4 môn.

Trong năm thứ 2, sinh viên chọn ngành chuyên môn: Ban Hành Chánh hay ban Kinh Tài… Việc chọn ban nầy áp dụng từ khoá Đốc sự Đà-Lạt (1952) đến khóa 12 Đốc sự (1964).  Chương trình thay đổi từ khóa 13 (1965) đến khóa 22 (1974), tất cả sinh viên học chung một chương trình, không chia ban hành chánh hay kinh tài và thời gian thực tập cũng không thống nhất giữa các khóa.  Trong chương trình cao học, (1965)  khi thi vào, thí sinh đã tự chọn ngành chuyên môn như hành chánh, tài chánh, kinh tế, ngoại giao, xã hội, thẩm tra kế toán….

Qua năm thứ 3 sinh viên thường được phân chia đi thực tập tại các tỉnh địa phương hoặc các bộ tại trung ương.  Sau đó trở lại Học viện học phần thời gian còn lại của chương trình trước khi thi tốt nghiệp.

Trong thời gian thực tập, sinh viên nghiên cứu các vấn đề hành chánh địa phương,  trung ương và gởi tờ trình tam cá nguyệt về Học Viện, đồng thời thu thập tài liệu để viết luận văn ( research paper) cho cuối khoá học.  Luận văn từ 40 đến 60 trang về một trong các đề tài liên quan đến nền hành chánh công quyền quốc gia hiện hành do sinh viên tự chọn.

Sau khi tốt nghiệp, các tân khoa chọn chỗ để phục vụ tại  các bộ, phủ tại trung  ương hay tại toà hành chánh các tỉnh, các thành phố điạ phương, theo thứ tự  xếp hạng sau kỳ thi tốt nghiệp.

Trong thời gian tòng học tại Học viện, các sinh viên được huấn  luyện qua chương trình “Cao Đẳng Quân Sự“ hoặc được hoãn dịch vì lý do học vấn.

Từ năm 1952, sinh viên các khoá Đốc Sự Đà-Lạt và các khoá Đốc sự kế tiếp 1,2,3,4, thụ huấn quân sự tại Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt trong lúc theo học chương trình hành chánh.  Một phần huấn luyện quân sự cho khóa 4 và toàn khoá 5 được chuyển qua huấn luyện tại Long Hải.   Sau khi tốt nghiệp các tân sĩ quan được lệnh phuc vụ tại các quân khu trong thời gian sáu tháng trước khi được biệt phái về đảm nhiệm các chức vụ hành chánh tại trung ương hay địa phương.

Sinh viên các khoá Đốc sự 6,7,8, từ  năm 1958, sau khi mãn khoá, được Bộ Quốc Phòng động viên vào các khoá sĩ quan tại Trường  Sĩ Quan Hiện Dịch Đồng Đế, Nha Trang.

Sinh viên các khóa Đốc sự 9  đến khóa 16, sau khi tốt nghiệp và được bổ nhiệm vào các chức vụ trong nền hành chánh quốc gia tại trung ương  và điạ phương, đã lần lượt được Bộ Quốc Phòng động viên vào các khóa Sĩ  Quan Trường Võ Khoa  Thủ Đức từ năm 1964 đến năm 1972.

Đa số sĩ quan gốc công chức được Bộ Quốc Phòng cứu xét, theo yêu cầu của các Bộ, Phủ, cho biệt phái ngoại ngạch, “chiếu nhu cầu công vụ”, về nhiệm sở cũ để đảm nhiệm các chức vụ quan trọng tại trung ương và địa phương để điều  hành nền hành chánh quốc gia.

Tại địa phương, cựu sinh viên hành chánh đảm nhiệm các chức vụ Phó Quận Trưởng, Trưởng Ty, Phó Tỉnh Trưởng, Phó Thị Trưởng, Đaị Diện Vùng … Tại trung ương, từ cấp Chủ sự, Chánh Sở, Giám Đốc, đến Tổng, Bộ Trưởng, Viện Trưởng, Thủ Tướng trong suốt 20 năm từ 1955-1975.

Việt Nam thoát khỏi sự bảo hộ của Pháp từ năm 1954 với một nền hành chánh tự trị phôi thai.  Nhằm mục đích thăng tiến nền hành chánh quốc gia, thưc hiện các chương trình phát triển, kinh bang tế thế trong hoàn cảnh khó khăn về mọi mặt nhất là áp lực về chính trị và quân sự.

Về chính trị, ý dân là ý trời, Chính phủ Viêt Nam Cộng Hoà chủ trương “công tâm vi thượng” đánh lấy lòng dân thay vì gây binh đao, tấn công ra Bắc để chiếm thành trì, ”công thành vi hạ”. Vì trận chiến tâm lý, “đắc nhân tâm”, phức tạp và khó khăn liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống trong công tác xây dựng tự do, hạnh phúc thực sự cho nhân dân Việt Nam nên Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã nhờ Đại học Michigan State University, Hoa Kỳ, bảo trợ chương trình đào luyện một lực lượng sĩ phu hành chánh mới, thấm nhuần tinh thần quốc gia và kỹ thuật quản trị khoa học tân tiến.

Về quân sự, miền Nam thường trực chịu áp lực hiếu chiến của miền Bắc. Đảng Cộng sản Hà Nội sẵn sàng gây hấn để phục vụ chủ trương của Cộng Sản Quốc Tế, nên Chính Phủ Việt Nam Công Hoà đã gia tăng quân lực qua sự hình thành các Trung Tâm Huấn Luyện binh sĩ, hạ sĩ quan và sĩ quan cho quân lực Việt Nam Cộng Hoà để baỏ toàn lãnh thỗ và an ninh cho miền Nam.

Các viên chức hành chánh tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hánh Chánh, hoặc tốt nghiệp thêm các ngành khác như  Văn Khoa, Luật Khoa, Sư Phạm hay Khoa Học cũng đồng thời xuất thân từ các quân trường đào tạo Sĩ quan cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà như Trường Võ Bị Liên Quân Đà-Lạt, Trường  Sĩ  Quan Đồng-Đế và Liên Trường Võ-Khoa Thủ-Đức, được trang bị với văn tài và võ lược hầu có thể đảm nhiệm hữu hiệu công tác trị quốc an dân từ địa phương đến trung ương.

Các công chức-quân nhân nầy, tuy thường được biệt phái nhưng vẫn là quân nhân tại ngũ, nên được quản trị, thăng thưởng và chế tài bởi hai quy chế: Quy chế công chức và quy chế quân nhân.  Công chức- quân nhân vi phạm kỷ luật thường bị chế tài về quân kỹ. Lệnh biệt phái bị thu hồi và được thuyên chuyển ra các đơn vị tác chiến, hay phục vụ tại các tiểu khu. 

Trong thời gian thi hành công vụ, một số công chức - quân nhân xuất thân từ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và các Quân Trường Sĩ Quan đã hy sinh vì tổ quốc.

Sau năm 1975, dù hoàn cảnh biến đổi ra sao đi nữa thì áo rách phải giữ lấy lề.  Cảnh khổ là nấc thang cho kẻ anh tài, kho tàng cho người khôn khéo và cũng có thể là vực thẵm cho người yếu đuối.  Cựu  sinh viên tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh cũng như các Quân Trường của Việt Nam Cộng Hòa vẫn kiên gan cùng tuế nguyệt, trân quý niềm tin vào chính nghĩa quốc gia, tinh thần tự trọng, và trình độ văn hoá văn, võ song toàn đặc thù của mình.

“Dù cho mưa, tôi xin đưa em đến cuối cuộc đời”

Nền giáo dục văn, võ nói chung mà mỗi người Việt thủ đắc và bảo tồn trong tâm tưởng thể hiện đặc trưng của nền văn hoá Việt Nam: Là của hương hỏa, công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy; là gia bảo thiêng liêng của tổ quốc in hình dấu vết của hồn thiêng sông núi mà người công dân nước Việt Nam Cộng Hoà luôn hãnh diện, ấp ủ trong hoài bảo, tựa bản nhạc vàng ru trọn đời mình!

Ngày nay, sau gần 40 năm viễn xứ, hầu hết cựu sinh viên HVQGHC cũng như các Quân Trường Võ Khoa khắp năm châu bốn bể, nhờ căn bản vốn liếng văn hóa còn lại “La culture est ce qui reste quand on a tout oublié”, đều đã thành công với tinh thần “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”, sống trong tự do, xứng đáng với nhân phẫm.

Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và các Quân Trường đã đào luyện nên những con người Việt-Nam, tài kiêm văn, võ, đã phục vụ đất nước, hoặc đang phục vụ các cộng đồng Việt Nam hải ngoại đều phục vụ với tình đồng hương, nghĩa đồng bào trong dòng sinh mệnh của dân tộc.

Những gì chúng ta trải qua trong cuộc đời đều là những hoài niệm đáng nhớ, đáng thương. Những hoài niệm êm đềm đã ghi sâu trong tâm tưởng về những năm dài, tháng rộng của một phần đời sinh sống, phục vụ quê hương và một phần đời viễn xứ.  Không tự tôn về quá khứ, mà cũng không tự ty về thân phận của kiếp sống tha hương.

Cicéro, một nhà hùng biện nỗi tiếng ở thành Rome, năm 46 trước công nguyên, đã nói người lớn khác trẻ em vì người  lớn biết quá khứ, nhớ lịch sử.  Dù quá khứ là quá khứ,  “Le passé est le passé”, cũng như tuổi tác “xuân bất tái lai”,  không thể  thay đổi hay đều chỉnh được, chúng ta vẫn giữ  thái độ “Bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt”.  Không oán trời, không trách người, phàm làm người nên biết thời vận.  Biết quá khứ giúp chúng ta am hiểu tình, lý của cuộc đời, tức là biết lẽ sống.

Cho dù chúng ta không loại bỏ ý niệm siêu hình về một phần của cuộc đời thường do định mệnh an bài vì chúng ta không lý giải được các ẩn số cố hữu. Thế nhưng, thế thượng thường tình, con người vẫn cố gắng dành phần tự quyết định thân phận của mình. “Chacun est l’artisan de sa fortune“, hoặc theo nhân sinh quan trung dung. “Có trời mà cũng tại ta”.

Nhân sinh quan cổ, kim, Đông, Tây, vẫn là một:  Đông thì quan niệm:”Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức.  Cố tài giả bồi chi, khuynh giả phúc chí”.  Trời hành đạo mạnh mẽ, cốt giúp người tự lực, tự cường, chứ không giúp người biếng nhác.  Tây thì khuyên ta “Aide toi, le ciel t’aidera”.  Hãy tự giúp mình, rồi Trời sẽ giúp mình sau, hoặc “Creator willed that man should be left in the hand of his own counsel for his own sake“.  “Khi nên Trời cũng chiều người”.

Tự lực, tự cường vẫn là hoàng đạo.  “Nhân vô viễn lự, tắc hữu cận ưu”.  Làm người mà không nhìn xa, ắt có ngày sẽ gặp phiền phức, âu lo, như quá khứ đã cho chúng ta nhiều kinh nghiệm đau thương.

Vì thế, dù sống trong thời gian nào, xã hội nào, chúng ta cũng phải phấn đấu hết mình, để khuất phục hoàn cảnh, trước khi phục mệnh.

”Trời đâu riêng khó cho ta mãi.
Vinh nhục dù ai cũng một lần”.

Sống xứng đáng là người Việt cao quý, trong bất cứ tình huống nào và phục vụ tập thể đồng môn, đồng nghiệp nói riêng và cộng đồng Việt-Nam hải ngại nói chung, thì cũng như phục vụ chính quê hương mình vậy.

Trần Xuân Thời

 _______________________

Ghi chú:
Một số đề thi các bài “Bình luận”

Các Khoá Đốc Sự từ năm 1952:  ĐS Đà Lạt (1952): “ Cải cách ruộng đất của chính phủ Bảo Đại” ; ĐS 1 (1953)-   ĐS 2 (1954) -;  ĐS 3 (1955) -;   ĐS 4 (1956)- ; ĐS 5 (1957): “Hà chánh mãnh ư hổ dã” (Chính sách hà khắc tàn bạo hơn cọp dữ ).  ; ĐS 6 ( 1958):  “ Học đến tận nơi, hỏi đến tận gốc, hiểu thật thông suốt, hành thật chu đáo” ; ĐS 7 (1959 -;  ĐS 8 (1960)- ;  ĐS 9 (1961)-;  ĐS 10 ( 1962):  “ Cứu cánh biện minh cho phương tiện”;  ĐS 11 (1963): “ Kỳ thân chính,  bất lệnh nhi hành;  kỳ thân bất chính, tuy lệnh nhi bất tùng “(Bản thân là chính trực, không ra lệnh người cũng nghe; bất chính thì có ra lệnh người cũng không nghe;  ĐS 12 (1964): “ Dân chủ và Độc tài “ ; ĐS 13 (1965): “ Tổng Thống Hoa Kỳ” ; ĐS 14 (1966): “Quyền hành pháp trong các xã hội chính  trị  ngày nay”; ĐS 15 (1967): “ Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa”;  ĐS 16 (1968): “Dân Biểu Quốc Hội“;  ĐS 17 (1969):“ Nguyên tắc Dân chủ”;  ĐS 18 (1970)- ; ĐS 19 (1971):  “Quyền Hành Pháp ;  ĐS 20 (1972)- ;  ĐS 21 (1973): “ Có người cho rằng giá trị của Bộ Máy Hành Chánh nhờ  vào người công chức. Lại có người cho rằng giá trị của người công chức thuộc vào Bộ Máy Hành Chánh.  Bạn nghĩ sao?”, “Hãy nói về tiềm năng dầu hỏa ở Việt- Nam, những thuận lợi và những khó khăn”;   ĐS 22 (1974):  “Ngày xưa, người ta coi công chức là phụ mẫu chi dân”.Anh chị nghĩ thế nào?  

Các Khóa Tham sự  từ năm 1965: TS1(1965)  “Chính sách tái phân lợi tức : TS 2 (1966)-; TS 3(1967)-; TS 4 (1968) -; TS 5 (1969) .

Các Khoá Cao Học từ năm 1965: CH 1 (1965): “ Vấn đề các nước bị chia đôi”;  CH 2 ( 1966) -;  CH3 (1967) “ Chiến tranh và các định chế quốc tế”);  CH 4 ( 1968) -;   CH 5 (1969) -;   CH 6 (1970 -;   CH 7 (1971)-;   CH 8 HC (1972): “Pháp bất vị thân”, nhưng có người nói “Môt người làm quan cả họ được nhờ”;  CH 8- TC (1972)” Lạm Phát”;    CH 9 (1973) -;   CH 10 (1974) “ Nghe nói ngành thuế vụ ở Việt Nam đầy dẫy tham nhũng.    Bạn tin là đúng không và biện pháp ngăn chặn”

Trang này đang kiến trúc

Sẽ có thêm bài mới


Hiện nay

Văn-Hữu Trần Xuân Thời là Chủ-Tịch Hội-Đồng Giám-Sát

​Tổng-Hội Cựu Sinh-Viên Sĩ-Quan Liên-Trường Võ-Khoa Thủ-Đức

  • Hello3:10

Trần

Xuân

Thời